{Trans} The Owl Service – Chapter 4

Phiên dịch, biên tập: box.

“Phòng lạnh quá !” Roger phàn nàn, ” Giống như kiểu đang trong hố băng ấy. Nhưng tiếng ồn là thứ khủng khiếp nhất. Mình cảm giác như trần nhà sắp sập đến nơi rồi. Cả tiếng lục đục di chuyển xung quanh trần nhà ngay bên trên giường, quanh tường, lò sưởi, ngay trên cả khay thức ăn. Cậu có thể hiểu là ở khắp mọi nơi. Có phải là tiếng cậu nghe thấy khi lên gác xép không ?”

“Không, không phải. Nhưng con bé bảo là càng ngày càng to. Cậu có làm gì không đấy ?”

“Mình gọi nó dậy. Nhưng con bé ngủ mất rồi.”

“Lúc đấy là mấy giờ ?”

“Chắc khoảng 1 giờ.Cậu biết tối qua nóng thế nào còn gì. Mình không ngủ được. Nên vẫn nghe thấy tiếng động. Cứ nghĩ con bé gặp ác mộng, hay ốm sốt gì đấy. Nên mới dậy.”

“Tiếng động trên gác xép à ? Chắc không ?”

“Chắc. Nghe giống tiếng cái gì đó đang mài móng mài vuốt lên mấy thanh xà ngang, hoặc đang cố chui ra, nhưng dù sao thì cũng chẳng hay ho gì cả.”

“Cậu chắc chắn 100% là không phải chuột cống chứ ?”

“Mình cũng chẳng biết nó là cái gì. Nhưng có vẻ to đấy.”

“To cỡ nào ?”

“To tầm tầm thôi.”

“Rồi sao ?”

“Không thấy gì nữa. Sợ luôn. Mình vẫn chẳng hiểu gì cả.”

“Sáng nay con bé thế nào rồi ?”

“Ăn hết bữa sáng, có nôn một chút. Thế thôi.”

“Đang ở đâu rồi ?”

“Nó nói là sẽ đi tìm mấy con cú giấy. Kiểu bị cuồng mấy con chim vô dụng đó.”

“Mang đĩa xuống chưa ?”

“Rồi. Cậu có biết bọn tớ trên gác xép kiểu gì không ?”

“Mẹ mình không nói gì về chỗ đĩa đó – cũng không có gì liên quan đến nhau: mẹ rất bực thôi. Và Alis đã tráo đĩa trót lọt ngay trước mặt mẹ mình. Làm như mẹ mình là người dân tộc chủ nghĩa ở Wales vậy (1) !”

“Ali nói là nó không tráo đĩa.”

“Cậu xạo vừa thôi. Không tin (2).”

“Thì hôm qua mình cũng không tin vậy mà. Nhưng con bé không tráo thật.”

“Quá vi diệu rồi. (3)” Gwyn tỏ vẻ thich thú.

 

 

 

 

 

 

*Chú thích:

(1) Người dân tộc chủ nghĩa ở Wales: họ thường nói những điều triết lí cao xa, mà những người dân bình thường không hiểu hoặc không hay để tâm đến. Gwyn ngụ ý Alison không coi trọng mẹ mình, bỏ ngoài tai những gì bà nói.

(2) Nguyên văn: Pull the other, it’s got bells on: sử dụng khi không tin những gì người đối thoại đang nói.

(3) Nguyên văn: Ring-a-ding-a-ding: thể hiện sự bất ngờ, thích thú

 

 

 

 

 

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s